Kiến thức y khoa tổng hợp

Chăm sóc sức khỏe gia đình bạn

Cùng BỆNH HỌC Y KHOA trang bị những kiến thức để có thể chăm sóc tốt cho bạn và những người thân yêu của bạn.

Kiến thức y học của chuyên gia

Cung cấp kiến thức y học chính xác nhất đến với bạn.Những kiến thức này được cung cấp từ nhưng chuyên gia trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe.

Đừng chết vì thiếu hiểu biết

Hãy trở thành chính chuyên gia cho cuộc đời bạn.Một sống và tận hưởng cuộc sống của bạn bởi chính hiểu biết của bản thân.

Kiến thức luôn ở quanh ta

Hãy chia sẻ những kiến thức của bạn với những người xung quanh.Kiến thức chẳng đâu xa cả mà chính ở những người bạn gặp,chia sẻ và nó cũng giúp tăng tình bạn của chúng ta.

Tận dụng thực phẩm làm thuốc

Có thật nhiều công dụng mà bạn không thể nào có thể ngờ tới trong chính những thực phẩm bạn ăn hằng ngày.Hãy hiểu biết và sử dụng chúng để trị bệnh vì nó an toàn và dễ kiếm.

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2016

Phương pháp định lượng cồn - Ethanol

Ethanol có mặt trong tất cả các loại rượu thường dùng trong sinh hoạt xã hội từ bia cho đến rượu mùi,rượu vang,rượu trắng.Việc uống rượu quá liều dẫn tới say,gây hậu quả tai hại:tai nạn giao thông,mất trật tự xã hội.Uống quá nhiều có thể chết.Vì vậy trong kiểm nghiệm độc chất thường phải xác định ethanol.
 Về mặt lý tính ethanol là một chất lỏng không màu,mùi hắc,vị cay,khối lượng riêng ở 15oC là 0.7943 ; sôi ở 80oC.Ethanol tan trong nước ở bất kì tỷ lệ nào.Mặt khác nó là dung môi của nhiều chất hữu cơ và vô cơ.Đốt cháy ngoài không khí tạo CO2    và H2O.
Đo nồng độ cồn

1.Các phản ứng định tính ethanol

 Sau khi phân lập khỏi mẫu thử bằng cách cất có thể xác định ethanol bằng các phản ứng sau:
·        Phản ứng tạo idoform:dùng iod trong môi trường kiềm oxi hóa ethanol thành acetaldehyde.Sau đó iod sẽ thế Hydro tạo ra dẫn xuất triodo acetaldehyde.Nó sẽ phân hủy trong môi trường kiềm tạo ra iodoform có mùi đặc biệt.Nhiều ethanol sẽ có nhiều tủa vàng.
               2NaOH + I2  è NaI + NaIO + H2O
             C2H5OH + NaIO  è CH –CHO + NaI + H2O
              CH3CHO + 3I2 è 3CI3CHO + 3HI
              CI3CHO + NaOH è CHI3 + HCOONa
·        Phản ứng oxi hóa ethanol bằng KMnO4 : trong môi H2SO4 ethanol bị KMnO4   oxi hóa thành acetaldehyde.Hơi aldehyde này bay lên sẽ làm xanh giấy quỳ tím tẩm natri nitroprussiat và pyridine.
·        Phản ứng oxi hóa etanol bằng K2Cr2O7 :trong môi trường acid mạnh ethanol bị  K2Cr2O7  oxi hóa thành acid acetic.Nếu vừa đủ hoặc thiếu dicromat dung dịch có màu xanh của ion Cr(III).Nếu thừa dicromat dung dịch có màu xanh lơ.
   3CHOH + K2Cr2O7 +  H2SO4 è 3CH3COOH + 2Cr2(SO4)3 + 2K2SO4 + 11H2O
·        Phản ứng este hóa ethanol:các este như acetyat etyl,benzoate etyl có mùi đặc biệt.Vì vậy ta làm phản ứng este hóa ethanol để xác định sự có mặt của nó trong mẫu thử.

2.Các phương pháp định lượng ethanol

 Dựa vào tính chất vật lý và hóa học của ethanol,người ta đề xuất nhiều phương pháp định lượng ethanol.Sau đây nêu một số phương pháp điển hình.
·        Phương pháp đo bằng tửu kế: nếu ta có dung dịch ethanol trong nước với nồng độ khá cao thì có thể dùng tửu kế đo độ cồn,rồi từ đó suy ra lượng ethanol.Nếu cần dùng xác dịnh nồng độ ethanol trong rượu mùi,rượu pha đường,các hóa chất,đông dược…thì lấy một thể tích rượu cần xác định xong đem cất cho đến khi hết ethanol.Thêm nước cất vào dịch cất cho đến thể tích bằng lượng rượu ban đầu.Đo độ cồn dung dịch tạo thành bằng tửu kế.Độ cồn đó là độ cồn trong mẫu nghiên cứu.
·        Phương pháp lắng:Nguyên tắc cất phân đoạn nhiều lần để làm giàu ethanol.Hướng dịch cất vào trong ống chia độ có tinh thể kali cacbonat khan và phenolphthalein.Nước trong dịch cất bị K2CO3 khan hút tạo thành dung dịch bão hòa.Ethanol không tan trong dung dịch này sẽ nổi lên trên kéo theo màu đỏ của phenolphatalein trong kiềm.Đọc thể tích rượu màu đỏ ở trên và tính ra lượng ethanol trong mẫu.Để định lượng người ta lấy 50ml dung dịch cất khi phân lớp ethanol bằng cất kéo hơi nước,đem cất lại trong bình cất có ống phân đoạn(deflemateur) lần thứ nhất lấy 20ml,cất lần thứ hai 2.5ml vào ống chia độ 0.01ml có chứa 3g tinh thể K2CO3 khan.Tỉ lệ ethanol(khối lượng/Khối lượng) trong mẫu được tính theo công thức thực nghiệm:
                      X% = (((a * 0.74 ) + 0.041 ) /P)    * 1000
     Trong đó a là thể tích trên ống(ml),P là khối lượng mẫu thử đã lấy(g).
  Để định lượng chính xác hơn,ta rút hết lượng rượu ở trên theme 5ml nước.Đem cất vi phân đoạn lấy 3ml về định lượng bằng phương pháp hóa học.Chú ý là cần cộng them 0.02ml là số thể tích ethanol do dung dịch K2CO3 giữ lại.
 Phương pháp lắng này ưu điểm:
-Loại trừ các chất khử khác có mặt trong mẫu thử(trừ aceton và methanol ở nồng độ trên 2%)
-Đơn giản và nhanh chóng.
-Theo nhiều tác giả phương pháp này phản ánh trung thành lượng ethanol trong mẫu thử đã thối rữa mà các phương pháp khác không giải quyết được
 Tuy vậy phương pháp này vẫn có nhược điểm là phải làm với lượng mẫu lớn là 50ml máu,100g mẫu thử khác….với nồng độ trên 1% mới có kết quả tin cậy.Nếu dưới 1% sai số có thể lên tới 20 -25%.
·        Định lượng rượu trong hơi thở:Harger-lamb và Hulpieu dùng nguyên tắc này để đo nồng độ rượu trong không khí thở ra ở người uống rượu từ đó suy ra lượng ethanol trong máu.Theo các tác giả này nếu 2l không khí thở ra chứa 190 mg CO2 thì tương đương với 1ml máu chứa 1mg ethanol,vì vậy cần đo lượng ethanol và lượng CO2 trong không khí thở ra để xác định gián tiếp ethanol trong máu.
-      Đo ethanol bằng hai bình chứa dung dịch Cordebard ở trên
-      Đo CO2 bằng cách cho không khí thở ra qua 2 bình đựng nước baryt.
-      Cho bệnh nhân thở qua qua bốn bình nói trên với tốc độ 0.5l/phút.Lấy hai bình đựng dung dịch Cordebard để định lượng ethanol.Lấy hai bình còn lại định lượng bari hydroxyd thừa bằng dd acid oxalic 0.5N – 1ml dung dịch acid oxalic 0.5N ứng với 11 mg CO2
-      Nếu lượng rượu là A,lượng CO2 thì P là nồng độ ethanol trong máu(mg/ml)
X = A/P * 190
Các pha dung dịch baryt:
Bari hydroxyd 160g
Saccarose 200g
Nước hòa tan vừa đủ 1000ml
Hòa tan và lọc.Ngoài phương pháp này ở nhiều nước Tây Âu có nhiều dụng cụ đo ethanol trong hơi thở hoạt động dựa vào nhiều nguyên tắc khác nhau.


Share:

Thứ Bảy, 19 tháng 11, 2016

Độc tính của chì

 Ngày nay chúng ta thường hay nhắc đến ngộ độc chì,thực phẩm có chứa chì,sản phẩm độc hại có thành phần chì....Nhưng độc tính của chì như thế nào và độc tính của chúng ra sao thì thực sự còn nhiều điều chúng ta cần tìm hiểu?
răng đen do ngộ độc chì

1.Những dẫn xuất của chì

 Chì là một kim loại mềm,màu xám.Chì tạo nên nhiều hợp chất khác nhau có tác dụng trên thực tế như:

  • Chì oxyd PbO;chì hydrat Pb(OH)2:bột màu trắng tí tan trong nước,tan trong kiềm NaOH hay KOH thừa.
  • Minium Pb3O4:bột màu đỏ không tan trong nước,minium có thể coi như là sự kết hợp của chì oxyd và chì dioxyd:2PbO.PbO2.Minium được dùng để pha sơn,dùng trong kĩ nghệ thủy tinh,làm chất màu cho đồ gốm...
  • Chì carbonat PbCO3:dùng pha sơn màu.
  • Chì cromat PbCrO4:màu vàng đẹp,dùng pha sơn màu.
  • Chì sulfid PbS:dùng tạo lớp màu trên mặt đồ gốm
  • Chì acetat Pb(CH3COO)2.3H2O:dùng nhiều trong phòng thí nghiệm,trong y học.

2.Những nguyên nhân gây ngộ độc chì

 Chì và các hợp chất của nó ít gây ngộ độc cấp tính vì chúng có mùi rất khó chịu nên khó uống.Nhưng đôi khi chúng có thể gây tai biến như:
  • Dùng thuốc có chì quá liều
  • Đựng natri clorid đẳng trương vào chai thủy tinh có pha chì
  • Ngộ độc có thể xảy ra do trẻ em ngậm đồ chơi có pha chì
 Trong thực tế thường hay xảy ra ngộ độc trường diễn do tích lũy chì trong thời gian dài.Các nguyên nhân gây ngộ độc trường diễn có thể là :
  • Ăn các thực phẩm đóng hộp hàn bằng thiếc lẫn chì
  • Uống nước dẫn qua đường ống pha chì
  • Hít phải bụi chì và các hợp chất của nó trong các nhà máy sản xuất sơn ,làm acquy,mạ kim loại,khai thác chì và đúc chữ.
Nguy hiểm nhất là ngộ độc chì trường diễn.Người ta tính cân bằng lượng chì cho một người dân ở đô thị:
  • Ô nhiễm không khí:dùng xăng có chì,lắng đọng hạt có chì...đưa vào người khoảng 10mcg/ngày.
  • Nước uống:15mcg/ngày
  • Thực phẩm:200-300 mcg chì/ngày
 Trong khi đó lượng chì trong cơ thể trao đổi 25mcg/ngày.Như vậy lượng dư trên 200mcg/ngày gây nguy hiểm cho hoạt động sống của con người.Nếu lượng dư khoảng 1mg/ngày có thể gây ngộ độc trường diễn.

3.Phương hướng kiểm nghiệm chì

a.Xử lý mẫu 

  • Kiểm nghiệm chì trong không khí:hút không khí có bụi chì vào acid nitric rồi dùng phản ứng của chì để định tính định lượng.
  • Xác định chì trong phủ tạng,máu và nước tiểu:tủa PbSO4 tạo thành sau khi vô cơ hóa bằng hỗn hợp sulfonitric được hòa tan trong amonacetat nóng rồi tiến hành định tính và định lượng.

b.Định tính Pb2+:

  • Phản ứng với dithizon tạo dithizonat chì,chiết xuất bằng carbon tetraclorid ở pH = 7 -10 ,nếu có Pb2+ lớp dung môi hữu cơ có màu tím đỏ.
                        Pb(CH3COO)2  +  2 H2Dz  ==> Pb(Dz)2 + 2 CH3COOH
     Phản ứng có độ nhạy cao (0.05 mcgPb/ml) và trong điều kiện phân tích độc chất đã mô tả,nó có tính đặc hiệu tuyệt đối.Vì rằng chì dithizonat thu được từ Pb2+ trong PbSO4 tức là tách riêng được Pb2+ ra khỏi đa số các nguyên tố khác.Trong kết tủa PbSO4 có thể có Fe3+ và Cr3+ đi vào dung dịch cùng với Pb2+.Sau khi hòa tan PbSO4 vào trong amonacetat.Nhưng do Fe3+ có ái lực yếu đối với dithizon,còn Cr+ tạo thành dithizon hợp chất không màu cho nên chúng không gây cản trở.
  • Phản ứng với dung dịch Kali iodid:
                    Pb2+  + 2KI ==> PbI2(tủa màu vàng) + 2 K+
 Thêm nước đun nóng PbI2 hòa tan tạo thành dung dịch màu vàng,để nguội kết tinh trở lại cho những tinh thể màu vàng óng ánh.Người ta gọi là những phản ứng mưa vàng

  • Phản ứng tạo Kali chì đồng hecxanitrit: K2CuPb(NO2)6.Cho vài giọt dung dịch Pb2+ lên phiến kính bốc hơi tới khô,thêm vào cắn 1-2 giọt dung dịch đồng acetat bão hòa rồi lại bốc hơi tới khô.Hòa tan cắn trong 2-3 giọt dung dịch acid acetic 30% và thêm vài tinh thể Kali nitrit.Nếu có Pb2+ sẽ thấy các tinh thể K2CuPb(NO2)6 hình lập phương màu đen.
  • Phản ứng tạo chì sulfid PbS:
                             Pb(NO3)2 + H2S ==> PbS(tủa) + 2HNO3
        Kết tủa không tan trong acid clohydric và sulforic loãng nhưng tan trong acid nitric loãng,giải phóng oxyd nitro và lưu huỳnh nguyên tố

  • Tạo kết tủa PbCrO4 màu vàng không tan trong dung dịch acid acetic,tan trong acid vô cơ và tan trong kiềm ăn da.
Có thể dịnh lượng Pb2+ bằng nhiều phương pháp:

  • Phương pháp dicromat-iod:cho dung dịch Pb2+ tác dụng với một lượng thừa dung dịch kali dicromat chuẩn.Định lượng kali dicromat dư bằng phương pháp do iod.Phương pháp này cho kết quả tốt khi nồng độ chì tương đối lớn(2-100 mg chì trong 100g mẫu thử).
  • Phương pháp chiết đo quang với dithizon:tạo dithizonat chì ở pH= 7-10.Chiết dithizonat thu được bằng cloroform ở pH > 7.0.Rửa dịch chiết bằng dung dịch KCN có thêm NH4OH.Độ mật đo quang của dịch chiết cloroform ở bước sóng 520nm(dung dịch so sánh là cloroform).Tính hàm lượng chì theo đồ thị chuẩn.Độ nhậy của phương pháp là 10 mcg /g.

4.Độc tính của chì

lợi đen do ngộ độc chì
lợi đen do ngộ độc chì

 Các muối chì đều có độc tính ,độc tính của nó rất phức tạp.Chì tác dụng lên các hệ thống men cơ bản,nhất là men trong quá trình vận chuyển tổng hợp heme.Ở đây có một pha quan trọng là chuyển hóa acid aminolevulinic(ALA) thành prophorbilinogen nhờ men ALA dehydrase.Pb2+ ức chế men này làm tích lũy trong máu trên 0.3 ppm sẽ ngăn cản quá trình oxy hóa glucose tạo ra năng lượng duy trì sự sống.Nếu hàm lượng chì / máu 0.8 ppm gây thiếu máu do thiếu hụt hemoglobin.

  • Triệu chứng ngộ độc chì:khi uống phải muối chì sẽ xuất hiện một số dấu hiệu:rát mồm,nôn ra chất trắng ( PbCl2),đau bụng,ỉa phân đen,táo bón.Vô niệu do thận bị tổn thương,tăng ure huyết,...
  • Trường hợp ngộ độc trường diễn:xuất hiện vành đen ở lợi rất sớm.
  • Chì làm tăng số protopocphyrin III tự co của hồng cầu và copropocphyrin III của nước tiểu.Việc xác định sự tích lũy pocphrin có tầm quan trọng lớn trong chuẩn đoán ngộ độc trường diễn vì rằng bình thường trong máu có rất ít protopocphyrin III tự do,còn trong nước tiểu không có copropocphyrin III.
  • Để chuẩn đoán ngộ độc trường diễn người ta còn ứng dụng thử nghiệm ALA.
  • Điều trị:trong ngộ độc cấp:rửa dạ dày bằng dung dịch natri hoặc magie sulfat.Cho uống thuốc chống độc kim loại nặng.Có thể tim truyền tĩnh mạch dung dịch natri clorid đẳng trương có chứa Ca(EDTA).
 Để tránh nhiễm độc chì cần phải chú ý cải thiện điều kiện làm việc,giảm thiểu lượng bụi chì và các hợp chất của nó xâm nhập vào cơ thể.Kiểm tra sức khỏe định kì cho công nhân tiếp xúc với 6 tháng một lần.Định lượng chì trong máu và nước tiểu.Xét nghiệm ure huyết,tìm hồng cầu có chấm trong máu.
 Để phòng ô nhiễm chì,tiêu chuẩn Việt Nam 1995(TCVN-95) quy định giới hạn 0.05 mg chì/l cho nước ngầm và 0.1 mg chì /l cho nước thải công nghiệp.

5.Nhận định kết quả kiểm nghiệm chì


  • Trong ngộ độc cấp tính thường tìm thấy lượng chì lớn ở đường tiêu hóa.
  • Đánh giá kết quả định lượng chì trong máu và nước tiểu để chuẩn đoán ngộ độc trường diễn,cần chú ý lượng chì có tự nhiên trong cơ thể:mức trung bình của chì trong máu 0.06 mg/100ml.Trong nước tiểu 24h:0.08mg
Share:

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2016

Phương pháp phân lập các độc chất

1.Phân tích chất độc


  • Khi bị ngộ độc,phân tích chất độc giúp chuẩn đoán,phát hiện nhanh nguyên nhân gây độc để có biện pháp cứu chữa chính xác kịp thời.Ví dụ khi bị ngộ độc chì....
  • Nhằm xác định loại và nồng độ chất độc trong dịch sinh học:máu,nước tiểu 
  • Mẫu rất độc ,hàm lượng chất độc thấp phải tiến hành lấy mẫu phù hợp,có biện pháp phân lập chất độc,làm sạch,phương pháp phân tích thích hợp để có kết quả nhanh và chính xác nhất
  • Quá trình phân tích các chất độc thường qua các giai đoạn trên 
  • Chu trình từ cách lấy mẫu và bảo quản các chất phân tích => chiết chất độc từ mẫu => phân lập các chất độc => phân tích các chất độc 
  • Cách lấy mẫu và bảo quản cho quá trình phân tích:nước tiểu vừa đủ lớn,lấy càng sớm càng tốt,không thêm chất bảo quản.Dịch dạ dày:lọc hay ly tâm 
  • Chiết chất độc từ mẫu:chọn dung môi thích hợp,V dung môi gấp 5-25 lần thể tích mẫu,xảy ra với dung môi lắc với dung dịch chiết,chiết liên tục băng dung môi hay chiết siêu tới hạn 
  • Phân lập các chất độc:chọn phương pháp phân lập dựa vào các đặc điểm hóa lý của chất độc.Phương pháp cất hoặc phương pháp cất kéo hơi nước => chiết bằng dung môi hữu cơ các chất độc không bay hơi/H2O
  • Phương tích các chất độc:Phản ứng định tính để xác định chất độc.Hàm lượng chất độc được định lượng bằng phương pháp thích hợp.Với chất độc vô cơ như AAS.ICP,cực phổ..với các chất độc hữu cơ LC,TLC....Ví dụ như phân tích nồng độ cồn trong máu.

2.Vô cơ hóa và phương pháp phân lập các kim loại 

2.1.Phương pháp vô cơ hóa ướt

  • Vô cơ hóa là quá trình oxy hóa đốt cháy các chất hữu cơ để giải phóng kim loại dưới dạng ion 
  • Trong một số trường hợp,quá trình vô cơ hóa không đốt cháy hoàn toàn được chất hữu cơ thành CO2,H2O mà chỉ tạo ra các hợp chất đơn giản hơn,kém bền vững hơn,dễ dàng bị phá hủy hơn 
  • Các phương pháp vô cơ hóa phổ biến là vô cơ hóa khô(hay phương pháp đốt),vô cơ hóa ướt(dùng acid với các chất tác nhân oxy hóa khác
  • Mẫu thử trong độc chất có thể là máu,nước tiểu,thực phẩm
  • Nếu mẫu thử là máu,nước tiểu thì phải đong trước,có thể cho thêm một lượng ít NaHCO3 rồi cô cách thủy đến khô
  • Nếu mẫu thử rắn(thức ăn,phủ tạng..) thì phải nghiền nhỏ.
  • Mẫu thử có cồn thì phải loại cồn bằng đun cách thủy ở phần nhiệt độ thấp để tránh gây nổ khi vô cơ hóa hỗn hợp bằng HCl và KClO3
  • Vô cơ hóa bằng phương pháp Clor mới sinh 
                      KClO3 + 6HCl => KCl + 3Cl2 + 3H2O \
                      Cl2 + H2O => 2HCl + O
    => Kim loại được giải phóng dưới dạng muối clorid.Tuy nhiên có nhược điểm:Thời gian vô cơ hóa dài,mất thời gian đuổi clor dư,vô cơ hóa không được hoàn toàn có thể gây mất mát một số nguyên tố 
  • Vô cơ hóa bằng các chất oxy hóa mạnh trong acid H2SO4
                      H2SO4 => H2SO3 + O 
                      H2SO3 => SO3 + H2O
                      HNO3 => H2O + 2NO + 3O 
                      2NO => N2 + 2O 
                Phương pháp phổ biến nhất để vô cơ hóa đa số kim loại độc.Ưu điểm: thời gian phá hủy mẫu ngắn,độ nhạy cao với nhiều cation,thể tích dịch vô cơ hóa nhỏ.Nhược điểm có thể mất mát mẫu dễ bay hơi như Hg...
  • Vô cơ hóa bằng hỗn hợp H2SO4,HNO3, HClO4
                      HNO3 => 2NO2 +  H2O2 
                      H2SO4 => SO2 + H2O2
                     2HClO4 => Cl2O6 + H2O2
            phương pháp phổ biến nhất để vô cơ hóa đa số kim loại độc.Ưu điểm:oxy hóa hoàn toàn các chất hữu cơ,oxy hóa được đa số các ion nhiều hóa trị lên hóa trị cao nhất,thời gian ngắn 2,5 -3 lần phương pháp H2SO4,thể tích dịch vô cơ hóa nhỏ .Nhược điểm có thể mất mẫu dễ bay hơi như Hg...
  • Vơ cơ hóa bằng hỗn hợp NH4NO3 và H2SO4
                     NH4NO3 + H2SO4 => (NH4)2SO4 + HNO3
                     H2SO4 => H2SO3 + O 
                     HNO3 => 2NO +H2O + O 
                     2NO => N2 + O 
                Ưu điểm: đỡ nguy hiểm cho người làm việc 
  • Vô cơ hóa bằng hỗn hợp H2O2 và H2SO4
             H2O2  => H2O + O 
             H2SO4 => SO2 + H2O2
     ưu điểm:ít tỏa khí độc,có nhược điểm là giá thành cao 

2.2.Phương pháp vô cơ hóa khô

Nung mẫu thử với một số muối có tính oxy hóa ở dạng bột như:KNO3,NH4NO3,.có thể thêm than hoặc đốt cháy 
  • Đốt với hỗn hợp Na2CO3 với NaNO3
             Phương pháp này ít được sử dụng,chỉ thực hiện với lượng mẫu nhỏ,mất một số kim loại khi đốt ở nhiệt độ cao.Có thể thêm một số chất độc trong một khối lượng nhỏ mẫu thử như tìm As trong nước tiểu,tóc,móng tay...Phương pháp này thường dùng để bổ sung cho phương pháp Clor mới sinh 
  • Đốt đơn giản :phương pháp này ít được dùng có thể dùng để xác định sự có mặt của muối:bismuth,kẽm,đồng,mangan,các iodid.
  • Sau khi vô cơ hóa chất lỏng thu được đều chứa một lượng chất oxy hóa thừa như nitrogen oxyd hay vết HNO3.Cần loại các chất vô cơ hóa khỏi dung dịch vô cơ hóa,các cách có thể loại chất oxy hóa thừa:dùng HCHO,ure,Na2S

3.Phân lập các chất độc hữu cơ bằng phương pháp cất kéo hơi nước 

3.1.Cơ sở của phương pháp cất kéo hơi nước

  • Đun hỗn hợp chất A và B không hòa tan vào nhau thì áp suất riêng phần của chúng tăng lên và không phụ thuộc vào nhau 
  • Khi tổng áp suất hơi riêng phần(P= Pa + Pb)  bằng áp suất khỉ quyển trên bề mặt thì hỗn hợp đó sôi =>mỗi chất trong hỗn hợp sẽ sôi ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ sôi của nó
  • Cơ sở của phương pháp cất kéo hơi nước
  1. Bình sinh hơi làm bằng đồng hoặc thép không gỉ 
  2. Bình đựng mẫu thử đặt trong một nồi cách thủy 
  3. Ống sinh hàn ngưng tụ pha hơi đưa vào bình chứa mẫu 
  4. Mẫu thử cho vào bình 
  5. Thêm nước cất(để hỗ hợp sền sệt như cháo)
  6. Acid hóa mẫu thử bằng acid hữu cơ không dùng acid vô cơ 
  7. Đặt bình vòa nồi cách thủy nối với bình sinh hàn 
  8. Cất nhỏ lửa để bốc hơi từ từ,sản phẩm hứng vào một bình 
  9. Nếu có chỉ định cần xác định chất độc nào trong mẫu thử thì lấy ngay dung dịch cất để phân tích 
  10. Nếu không có chỉ định cụ thể thì lấy riêng dịch cất vào nhiều bình khác nhau 

3.2.Cách lấy mẫu để phân tích các chất độc từ dịch cất được 

  • Theo Svaicova
  1. Dịch cất được hứng vào 4 bình
  2. Bình 1 có 2 ml NaOH 5% cất lấy 15 ml
  3. Cất tiếp vào 3 bình khác mỗi bình 25-50 ml 
  4. Nếu dương tính chất nào thì cất cho đến khi không còn phản ứng chất đó trong độc chất
  5. Bình 1 để xác định CN và dẫn chất halogen mạch thẳng:methanol...
  6. Các dịch cất ở bình sau dùng để kiểm tra lại khi cần 
  • Theo Kohn-Abrest
  1. Tiến hành với 300mg mẫu thử để lấy 300ml dịch cất 
  2. Nhận xét màu,mùi dịch cất
  3. Lấy khoảng 50ml để tìm dẫn chất halogen mạch thẳng 
  4. Phần còn lại cất lần thứ 2 lấy 100ml.Sau đó cất thêm lần thứ 3 lấy 35ml
  5. Lấy rửa dịch cất lần cuối để xác định CN,phenol,...nửa còn lại xác định rượu 

3.3.Nguyên tắc chung chiết suất chất độc hữu cơ 

  • Chiết là một quá trình đặc biệt phân bố một chất giữa 2 pha lỏng không trộn lẫn vào nhau,thường là giữa dung môi hữu cơ và nước
  • Lắc để tăng tốc độ phân bố chất tan giữa 2 pha lỏng 
  • Quá trình lắc ở mức độ thích hợp 
  • Đạt tới trạng thái cân bằng ngưng lắc và tách riêng dung môi chiết
  • Hiệu suất chiết chất độc từ một mẫu thử phụ thuộc vào nhiều yếu tố 
  • Quá trình chiết thường bao gồm các giai đoạn sau 
  1. Xử lý sơ bộ mẫu thử: có nhiều mẫu thử không qua giai đoạn này,giai đoạn này tạo điều kiện cho chất độc dễ dàng chuyển sang dung môi hữu cơ như các liên kết protein..nhằm làm giàu chất phân tích như cồn-acid,..
  2. Chọn điều kiện cho quá trình chiết suất:bước tiếp theo cần chọn được pH loại dung môi chiết và thể tích thích hợp.Các chất độc thường gặp có tính acid hay base yếu .Giai đoạn đầu chiết ở pH có tính acid nhẹ để chiết được tất cả chất độc có tính acid.Sau đưa pH sang vùng kiềm nhẹ để chiết được hầu hết các alcaloid và base tổng hợp.Dung môi hữu cơ thường dùng là ether và clorofom.Ether hòa tan tốt nhưng bay hơi quá nhanh,dễ bắt lửa.Clorofom cũng là dm tốt,dễ tách pha nhưng dễ tạo nhũ dịch.Quá trình chiết suất thường được tiến hành trong cả môi trường acid và môi trường kiềm.Việc chiết suất ở môi trường acid thường có nhiều tạp chất.Tuy nhiên nếu chất phân tích không chiết ở môi trường này thì vẫn nên loại bỏ bớt tạp chất bằng phương pháp chiết qua pH acid trước khi chuyển sang môi trường kiềm 
  3. Loại tạp chất trong dịch chiết;dung dịch ether/clorofom thường có nhiều tạp chất nên việc loại bớt tạp chất có nhiều trong dung dịch chiết là cần thiết.Có nhiều cách để thực hiện quá trình này:cho qua một cột than hoạt tính hay cột ionit,thăng hoa để lấy chất độc,chiết lặp lại nhiều lầ ở 2 môi trường acid yếu và base yếu
  4. Phương pháp chiết lại:Các chất độc có tính acid tan trong dung môi khi chiết ở môi trường acid thì chuyển thành muối tan trong nước bằng cách lắc dịch chiết với dd NaOH.Lấy lớp nước,acid hóa và chiết lại bằng ether nhiều lần .Dịch chiết ở môi trường kiềm thì lắc vài lần với dung dịch acid nước .Lấy phần nước gộp lại và kiềm hóa rồi chiết dung môi vài lần.Có thể làm nhiều lần như vậy để loại tạp chất dịch chiết
  5. Phương pháp trao đổi ion:trước khi định lượng alcaloid có thể tinh khiết hóa bằng cách cho dung dịch nước của muối alcaloid qua cột cationid,alcaloid được giữ lại ở cột.Rửa cột bằng nước cất để phản ứng trung tính.Đẩy alcaloid khỏi cột bằng 50ml dd acid với tốc độ 2ml/phút.Thường dùng cellulose để oxy hóa làm chất trao đổi ion có ưu điểm là liên kết của nó với alcaloid yếu nên có thể dùng acid đẩy ra nhanh và hoàn toàn 
  6. Chiết bằng dung môi:là kĩ thuật sử dụng dung môi để chiết chất phân tích từ mẫu đã làm nhỏ
Tìm hiểu thêm nhiều kiến thức tại bệnh học y khoa 
Share:

Thứ Sáu, 22 tháng 4, 2016

ĐỘC CHẤT HỌC

1.Độc chất học và nhiệm vụ của độc chất học 


1.1.Sơ lược về độc chất học 

1.1.1.Độc chất học 

  • Môn học nghiên cứu tính chất của các chất độc 
  • Tác động của chúng đối với cơ thể 
  • Phương pháp phân tích đánh giá mức độ nhiễm độc 
  • Cách phòng chống tác động có hại của chất độc 

1.1.2.Đối tượng của độc chất học 

  • Ban đầu chỉ là nghiên cứu số ít độc chất đầu đọc người và gia súc 
  • Ngày nay độc chất học không chỉ nghiên cứu chất độc đa dạng về cấu tạo và tác động còn nghiên cứu cả về các tác nhân vật lý và phóng xạ 
  • Không có ranh giới giữa chất độc và chất không độc 
  • Cơ chế tác dụng triệu chứng khi bị nhiễm độc rất khác nhau 
  • Phần lớn các chất độc từ mội trường ngoài xâm nhập vào cơ thể nên cần giám sự ô nhiễm của mội trường 
  • Độc chất học liên quan mật thiết đến nhiều môn học:Hóa học,sinh học,sinh lý học ,y tế dự phòng
  • Hỗ trợ các ngành khoa học khác như y học,dược học ,...

1.2.Nội dung và nhiệm vụ của độc chất 

1.2.1.Độc chất học phục vụ xã hội

  • Không chỉ bảo vệ con người và con người tránh được ảnh hưởng của chất độc 
  • Tạo điêu kiện phát triển cho một số tính chất chọn lọc của chất độc  trong tìm kiếm các thuốc,các chất diệt sâu cỏ
  • Phục vụ công tác phòng bệnh và chống ô nhiễm môi trường,công tác điều trị và cấp cứu ngộ độc công tác tư pháp
  • Phục vụ cho công tác phòng bệnh và chống ô nhiễm môi trường;đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của độc chất học,phải được đặt lên hàng đầu,là biện pháp tích cực để bảo vệ sức khỏe cộng đồng,xây dựng tiêu chuẩn vệ sinh môi trường,kiểm tra giám sát việc thực hiện các tiêu chuẩn,hoàn thiện các phương pháp phân tích đề xuất các phương pháp khử độc 
  • Phục vụ công tác điều trị và cấp cứu ngộ độc:phân tích để chuẩn đoán,pháp hiện nhanh nguyên nhân ngộ độc có biện pháp cấp cứu điều trị chính xác kịp thời,nâng cao hiệu quả cứu chữa bệnh nhân,phân tích chất độc không chỉ phục vụ cho cấp cứu ngộ độc mà còn giúp phòng ngộ độc thuốc điều trị,phân tích chất độc nhằm xác định loại và nồng độ chất độc trong máu,trong nước tiều phục vụ điều trị,đặc biết quan trọng với các chất độc có độc tính cao giới hạn an toàn hẹp hay dễ bị tích lũy trong cơ thể
  • Phục vụ cho công tác tư pháp :phân tích chất độc còn có nhiệm vụ phục vụ công tác tư pháp khi cần thiết,khi nghi nạn nhân bị đầu độc đến tử vong hay bị ngộ độc nặng 

2.Các khái niệm

2.1.Khái niệm về chất độc

  • Chất độc là những chất khi đưa vào cơ thể một lượng nhỏ trong điều kiện nhất định sẽ gây hại từ mức độ nhẹ đến mức độ nặng có thể dẫn tới tử vong 
  • Ngộ độc là sự rối loạn hoạt động sinh lý của cơ thể dưới tác động của chất độc 
  • Một chất trở nên độc phụ thuộc vào lượng đưa vào cơ thể vào tính chất vật lý và hóa học,vào cách sử dụng,tình trạng sức khỏe và tuổi tác của cơ thể

2.2.Độc tính

  • Độc tính:là khái niệm về liều lượng và được dùng để mô tả tính chất gây độc đối với cơ thể
  • ED50
  • Liều tối đa gây độc 
  • Liều tối thiểu gây độc 
  • Liều gây độc 
  • Liều gây chết
  • Liều độc cấp tính ED50
  • Đối với đường hô hấp:nồng độ gây chết LC50
  • Các yếu tố chủ quan:Loài:Mỗi loài có một liều độc riêng không thể suy từ loài này sang loài khác hay từ gia súc suy ra con người.Liều độc đối với người không chỉ được xác định bằng thực nghiệm nên dựa vào ước lượng và điều tra.Tuổi,giới tính cân nặng.Độ nhạy cảm của từng cá thế và trạng thái cơ thể:đói,mệt ,có thai,có bệnh
  • Các yếu tố khách quan:đường dùng,cách dùng,dạng dùng,tốc độ đưa thuốc vào cơ thể,tương tác thuốc gây tác dụng hiệp đồng hay đối kháng,sự quen thuốc:dùng nhiều lần có thể chiu được lượng nhất định hay vi khuẩn bị nhờn thuốc

2.3.Phân loại chất độc

  • Theo nguồn gốc 
  • Theo tính chất vật lý,hóa học 
  • Theo độc tính 
  • Theo phương pháp xử lý mẫu và phân tích chất độc 
  • Theo cơ quan chịu tác động 
  • Theo tác động của chất độc 
  • Theo mục đich sử dụng chất độc 

2.4.Sự ngộ độc và nguyên nhân gây ngộ độc

  • Ngộ độc là sự rối loạn hoạt động sinh lý của cơ thể dước tác động của độc chất
  • Các nguyên nhân ngộ độc 
  • Ngộ độc do nhầm lẫn;dùng nhầm chất độc để uống để ăn,sờ vào mà không biết,dùng nhầm chất tẩy rửa,thuốc trừ sâu,thuốc diệt con trùng,..Có thể nhầm thuốc nhầm liều hay dị ứng với thuốc,mỹ phẩm 
  • Nhiễm độc do nghề nghiệp:tiếp xúc với các chất độc mà phương tiện bảo vệ không đảm bảo có thể bị ngộ độc.Có tính chất trường diễn và gây ra bệnh nghệ nghiệp,nhiễm độc chì,bụi phổi.có thể xẩy ra tai nạn lao động như bị bỏng acid ở các nhà máy hóa chất
  • Nhiễm độc do ô nhiễm môi trường :ô nhiễm môi trường nước khí đất đặc biệt là môi trường nước.Là vấn đề cấp bách của nhiều nước hiện nay 
  • Nhiễm độc thực phẩm:Thức ăn có thể bị nhiễm độc do vi khuẩn,nấm tiết ra.Một số thực vật sinh vật biển có chứa chất độc như nâm,sắn măng.Ăn thực phẩm ôi thiu bị nhiễm độc tố hoặc thực phẩm chứa chất độc không chế biến có thể bị ngộ độc 
  • Tự sát hay bị đầu độc:nhiều trường hợp nạn nhân quyên sinh bằng sử dụng chất độc hay bị đầu độc 

2.5.Các cấp độ của ngộ độc 

  • Cấp tính:Triệu chứng rõ ràng,xuất hiện ngay sau một số ít lần tiếp xúc với chất độc,thời gian ngắn trong vòng 24h
  • Bán cấp:Xảy ra nhiều ngày có khi một đến hai tuần,thời gian điều trị ngắn nhưng thường để lại những di chứng
  • Mạn tính:Xẩy ra sau nhiều ngày phơi nhiễm với chất độc do sự tích lũy dần chất độc nhưng làm thay đổi rất nhiều về cấu trúc và chức năng của tế bào 
  • Tùy theo liều dùng,con đường thể trạng bệnh nhân mà chất độc có thể gây nhiều cấp độ khác nhau 

3.Sự hấp thu,phân bố,chuyển hóa và thải trừ chất độc 

3.1.Sự hấp thu

  • Tiếp xúc với chất độc có nghĩa là bị phơi nhiễm chất độc đó
  • Lượng chất độc xâm nhập được vào phụ thuộc vào đường hấp thu 
  • Qua da và niêm mạc:phụ thuộc vào nồng độ,kích thước phân tử,độ ẩm,diện tích tiếp xúc,mức độ sung huyết của da và niêm mạc 
  • Qua đường tiêu hóa:chất gây nôn tiêu chảy loét dạ dày và ngộ độc thực phẩm,phụ thuộc vào nồng độ,kích thước phân tử,độ tan,khả năng ion hóa,ph,bộ máy tiêu hóa...
  • Qua đường hô hấp:Dạng khí,dạng khí dung,khói bụi.Kích thước lớn sẽ tích động ở miệng,họng mũi,bụi chỉ rất nhỏ mới đi vào qua phổi đi vào máu nhanh và thành mạch mỏng và được cấp máu tốt.Trong công nghiệp hóa chất,phun thuốc trừ sâu,,,
  • Qua đường tiêm:Là đường gây tác động nhanh nhất,đặc biệt nhất,tiêm dưới da và tiêm bắp có tác dụng chậm hơn 

3.2.Phân bố các chất độc trong cơ thể 

  • Chất độc được máu đưa đến các tổ chức và gây độc
  • Hiều được sự phân bố các chất độc trong cơ thể giúp giải thích được các triều chứng ngộ độc,chọn mẫu thử thích hợp để phân tích chất độc 
  • Sự phân bố các chất độc trong cơ thể tùy thuộc vào tính chất của các chất độc,tan trong nước,trong mỡ.Ái lực của chất độc đối với các loại mô.flor đọng lại ở xương răng,các kim loại nặng có nhiều trong các tế bào sừng(lông,móng tay)..Khả năng tích lũy của các tổ chức với các chất độc.Cấp độ ngộ độc cũng như ảnh hưởng của phân bố chất độc trong cơ thể
  • Cơ chế phản ứng lại làm chuyển hóa chất độc thay đổi độc tính mà phần lớn trở thành chất độc ít hơn:oxy hóa khử,thủy phân dưới tác động của enzym,các phản ứng liên hợp các chất nội sinh tạo ra các sản phẩm ít độc hơn và dễ đào thải hơn 
  • Chất độc được đào thải tự nhiên qua nhiều đường khác nhau :qua thận.qua gan,mật,qua hô hấp và các đường khác..

3.3.Sự thải trừ chất độc

  • Qua thận:lọc thụ động các chất độc qua cầu thận có kích thước <100A và không liên kết với protêin.Khuyết đại thụ động xẩy ra ở ống lượn gần và ống lượn xa.Quá trình tái hấp thu xẩy ra nhiều ở ống lượn gần thường là nơi chịu nhiều độc tính của các chất độc được tái hấp thu.Sự bài tiết xẩy ra ở ống thận theo cơ chế chủ động hay thụ động,kiềm hóa nước tiểu để tăng đào thải phenobarbital và salicylat.Theo dõi nước tiểu có thể biết cơ chế tác dụng của chất độc,phương pháp khử độc của cơ thể 
  • Quá gần,mật:tùy theo kích thước phân tử của sản phẩm chuyển hóa sẽ được bài tiết qua nước tiểu hay qua mật rồi đào thải qua phân.Ở ruột một số sản phẩm liên hợp có thể bị thủy phân trở lại dạng ít phân cực hấp thu qua ruột và quay trở lại gần theo đường tĩnh mạch cửa để vào trong tuần hoàn.Chu trình ruột gan có thể lặp lại nhiều lần làm tăng thời gian bán thải chất độc và gây độc cho gan.Những chất này tích lũy trong cơ thể là kéo dài tác dụng,Phần lớn các chất độc tan trong lipid sẽ bị gan biến đổi và đào thải 
  • Qua hô hấp;bộ máy hô hấp đào thải các chất khí như carbon,monoxid,thuốc mê...Tốc độ thải trừ phụ thuộc vào tốc độ hô hấp,độ hòa tan chất độc trong máu,lưu lượng máu trong phổi,do vậy tăng thông khí phế nang làm tăng đào thải chất độc.Các chất tan trong máu nhiều hơn dễ đào thải hơn

3.4.Tác động của chất độc trên các cơ quan trong cơ thể

3.4.1.Tác động của chất độc trên các cơ quan của cơ thể 

  • Dù xâm nhập bằng con đường nào thì sau một thời gian nắng đều được phân bố đều trong cơ thể
  • Mức độ phân bố ở các cơ quan:tùy tính chất hóa lý của chất độc và điều kiện xâm nhập vào cơ thể 
  • Chất độc tấn công ngay vào tế bào sống và làm rối loạn hoạt động của chúng

3.4.2.Các cơ quan chịu tác động của chất độc 

  • Trên bộ máy tiêu hóa:Gây nôn,gây tiết nước bọt nhiều,làm khô miệng,kích thích gây chảy máu đường tiêu hóa,khó tiêu tiêu chảy..
  • Trên gan:hầu hết gây tổn thương gan,xơ gan,tắc nghẽn mật,viêm gan,ung thư gan,..
  • Trên thận và hệ tiết niệu:Đái ra máu,gây hoại tử tế bào thận.vô niệu ,thiểu niệu,suy thận 
  • Trên bộ máy hô hấp:Gây kích thích biểu mô phổi do phù hay bỏng,gây ho,chảy nước mũi,khó thở ngứa cổ,ngứa mũi,phù phồi,ngạt thở,viêm phế quản,làm thay đổi nhịp thở,thở chậm thở nhanh,khó thở kiều hen....
  • Trên hệ tuần hoàn
  • Trên tim mạch 
  • Trên máu 
  • Trên hệ sinh sản 

3.5.Xử lí ngộ độc 

Khi có các dấu hiệu nạn nhân ngộ độc ảnh hưởng đến các cơ quan sống của cơ thể thì:
  • Việc điều trị các triệu chứng để duy trì sự sống nhằm nâng cao sức đề kháng là quan trọng nhất,phải được tiến hành trước
  • Tiến hành các biện pháp loại trừ độc hoặc làm giảm tác động của chất độc và điều trị rối loạn các triệu chứng 
  • Loại chất độc trực tiếp:thực hiện khi nạn nhân bị ngộ độc dưới 6h
  • Loại bỏ chất độc trên da và mắt
  • Khi bị nhiễm các chất độc ăn mòn,acid,kiềm mạnh:cởi bỏ quần áo chỗ bị nhiễm độc,rửa nhiều lần,không chà xát bằng nước ấm,xà phòng(nếu là acid)dùng dung môi nếu không tan trong nước.Vào mắt rửa nhiều lần với nước sạch,nước muối sinh lý nhỏ thuốc giảm đau 
  • Loại chất độc trực tiếp qua đường tiêu hóa gây nôn,xử lí nhanh và ngay lập tức khi ăn hoặc uống phải chất độc .Không nên gây nôn sau khi ngộ độc sau 4h,bị hôn mê,động kinh co giật,bị ngộ độc acid,kiềm mạnh.hóa chất gây bỏng,ngộ độc xăng dầu và các chất độc dễ bay hơi 
  • Loại chất độc qua đường tiêu hóa thường rửa dạ dày :nếu không gây nôn được khoảng từ 3-8h sau khi ngộ độc:giửa dạ dày nhiều lần cho đến khi nước rửa trong dần,kết hợp lẫn mẫu phân tích chất độc,dung dịch để rửa dạ dày là KMnO4 0.1% hoặc NaHCO3 0,5%(trừ ngộ độc bằng acid giải phóng CO2.Không rửa dạ dày khi bị bỏng thực quản do ngộ độc acid,base mạnh,do độc strychnin,uống phải chất dầu,hôn mê sâu 
  • Loại chất độc trực tiếp qua đường tiêu hóa:tẩy xổ,thụt tháo,sử dụng thuốc tẩy xổ loại nhẹ nhưng Na2SO4,MgSO4,...để kích thích nhu động ruột thải bớt chất độc,giảm hấp thu chất độc ở ruột,giảm táo bón do dùng than hoạt tính.Không dùng thuốc tẩy dầu khi bị ngộ độc chất độc tan trong dầu,phospho hữu cơ.Rửa đại tràng bằng dung dịch NaCl 0,9%  kết hợp rửa dạ dày 
  • Loại chất độc gián tiếp:Qua đường hô hấp có thể thải nhanh chóng một số chất độc ở thể khí hoặc thể dễ bay hơi khỏi cơ thể,để người bệnh nằm ở nơi thoáng ,làm hô hấp nhân tạo,có thể hỗ trợ hô hấp thở oxy
  • Loại trừ gián tiếp qua đường thận:truyền nhiều dịch:glucose ưu trương,dùng thuốc lợi tiểu thẩm thấu manitol,không dùng khi có suy thận,suy tim,phù phổi cấp,trụy tim nặng và chú ý bồi đắp thích đáng các chất điện giải Na,K.Tăng loại trừ chất độc acid yếu bằng đường truyền THAM/NaHCO3 1-5%(cần theo dõi pH dưới 7,6 vì kiềm hóa quá sẽ ức chế hô hấp),chạy thận nhân tạo nhanh chóng nhưng tốn kém
  • Loại chất độc gián tiếp bằng chính máu hay thẩm tích máu:thẩm tích máu cũng là hình thức lọc máu ngoài thận,cũng đơn giản như chạy thận nhân tạo nhưng đơn giản và đỡ tốn kém hơn.Chích máu khi chất độc vào máu dễ pha loãng chất độc có thể chính bớt máu và truyền nước muối sinh lý hay glucose.Biện pháp này hiệu quả nhất ở giai đoạn sớm của ngộ độc đặc biệt khi có các triệu chứng thần kinh,tim mạch và tích nước ở phổi.Không dùng trong trường hợp trụy tim mạch (niêm mạc nhợt nhạt,mạch nhỏ nhanh,huyết áp thấp)
Làm giảm độc tính của chất độc ví dụ như trong ngộ độc chì 
  • Hấp thu bớt chất độc trong dạ dày,ruột 
  • Dùng các chất có khả năng hấp thu bớt chất độc như lòng trắng trứng,sữa,kaolin,..
  • Chất hấp phụ thường dùng là than hoạt tính vì than hoạt có thể hập thụ nhiều chất độc nếu được dùng trong 4h đầu 
  • Có thể dùng than hoạt gây nôn hay rửa dạ dạy,không dùng khi chưa dứt nôn 
  • Trung hòa hoặc phá hủy các chất độc bằng các chất kháng độc đặc hiệu 
  • Dùng các chất tương kỵ để ngăn cản hấp thu,làm mất hoạt tính hoặc đối kháng tác dụng với chất độc 
  • Các chất chống độc có khả năng tác dụng với nhiều chất độc tạo nên những chất không tan hoặc ít tan
  • Có thể dùng các chất chống độc cùng chất gây nôn,sau khi gây nôn hoặc thêm vào dung dịch rửa đường tiêu hóa 
  • Dùng tanin để kết tủa kim loại nặng bằng các chất kháng độc đặc hiệu 
  • Alcaloid tạo với tanin hợp chất tanat kết tủa nhưng không tan trong acid HCl của dạ dày 
  • Do vậy tanin chỉ làm chậm tác dụng của chất độc nên sau khi uống  thuốc giải độc phải gây nôn hoặc tẩy xổ \
  • Các chất kháng độc không đặc hiệu không nhiều,trong trường hợp chúng có vai trò rất quan trọng 
  • Điều trị đối kháng :dùng các chất có tác dụng dược lý đối lập nhau.
  • Tác dụng trung hòa đối lập của chất độc thông qua các cơ chế:ngăn qua trình chuyển hóa thành sản phẩm độc hơn,làm tăng tốc độ thải trừ độc
  • Cạnh tranh thụ thể hoặc phong bế các thụ thể này 
  • Giúp hồi phục các chức năng của cơ thể bị ngộ độc:khử Fe3+ của methem thành Fe2+ của hem,tiếp tục tham gia vận chuyển oxy 
  • Điều trị triệu chứng:các chất độc không nhiều và việc phân tích xác định các chất độc cần có thời gian.Trong khi chờ đợi kết quả phân tích người bệnh có thể bị đe dọa tính mạng vì rối loạn chức phận.vì vậy điều trị triệu chứng có vai trò rất quan trọng 
  • Nếu bị ngạt:đặt nội khí quản,hô hấp nhân tạo,không làm hô hấp nhân tạo khi ngộ độc clo,brom..Sau khi hô hấp nhân tạo có thể dùng thêm thuốc kích thích trung ương thần kinh.Chống suy tim điều trị rối loạn nhịp tim bằng thuốc trợ tim.Chống sốc do nôn tiêu chảy,xuất huyết dẫn đến giảm thể tích máu,giảm cung lượng tim đột ngột do rối loạn nhịp tim.Điều trị triệu chứng thần kinh như co giật ,khắc phục hôn mê,ức chế thần kinh 
  • Chống mất nước và điện giải bằng truyền dung dịch glucose 5% và dung dịch NaCl.Điều trị toan kiềm bằng thuốc lợi tiểu,tăng đào thải.Chống biến chứng máu.


Share:

BÀI ĐĂNG GẦN ĐÂY

HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
 
back to top